Clip bác sĩ Bệnh viện Đa khoa khu vực Quảng Nam hướng dẫn cách phòng tránh bệnh sốt xuất huyết...xem tại đây

Theo trang Boldsky, nếu bạn đang dùng nhiều thuốc tránh thai trong thời gian dài, hãy dừng lại bởi dùng thuốc quá liều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

Các chuyên gia khuyến cáo, dùng quá liều thuốc tránh thai, chị em có thể bị đột quỵ, tăng nguy cơ đông máu rất nguy hiểm, nhất là ở phụ nữ hút thuốc lá. Trong một số trường hợp, tác dụng phụ này có thể dẫn đến hôn mê và thậm chí tử vong.

Dưới đây là một số tác dụng phụ không mong muốn mà thuốc tránh thai có thể mang lại cho bạn:

  1. Chảy máu âm đạo

Lạm dụng thuốc tránh thai, sử dụng không theo phác đồ của bác sĩ có thể làm chảy máu âm đạo.

  1. Đau tim

Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai có nguy cơ tử vong do tim mạch gấp 5 lần người không dùng thuốc.

  1. Đột quỵ

Một trong những lý do phụ nữ không nên dùng quá nhiều của thuốc tránh thai là do kích thích tố hiện diện trong thuốc có thể gây ra hiện tượng cục máu đông dẫn đến đột quỵ. Phụ nữ có tiền sử gia đình rối loạn máu thì càng phải cẩn trọng khi dùng thuốc.

  1. Huyết khối tĩnh mạch sâu

Đây là tác dụng phụ của thuốc ngừa thai. Những phụ nữ có tiền sử gia đình rối loạn máu thì dễ mắc huyết khối tĩnh mạch sâu dẫn đến đột quỵ hoặc đau tim.

  1. Sỏi thận

Dùng quá liều thuốc ngừa thai cũng dẫn đến việc hình thành sỏi thận. Do vậy cần uống nhiều nước trong quá trình sử dụng thuốc tránh thai.

  1. Dị ứng da

Dị ứng da là tác dụng phụ nhỏ sau khi uống viên thuốc ngừa thai. Nếu bạn uống quá liều thì đây là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, da sưng lên, có phát ban đỏ và ngứa liên tục.

  1. Trầm cảm

Quá liều thuốc tránh thai cũng có thể dẫn đến trầm cảm, ảnh hưởng đến tâm trạng và hệ thần kinh.

  1. Ung thư vú

Theo khảo sát, phụ nữ thường xuyên dùng thuốc tránh thai có nguy cơ phát triển ung thư vú đến 70% so với thông thường.

Vì vậy, bạn nên sử dụng thuốc tránh thai với liều lượng hợp lý theo chỉ định của bác sĩ.

2Đi tiểu ban đêm là một hiện tượng khá phổ biến ở người trưởng thành. Hiện tượng này thường được chúng ta chấp nhận như một vấn đề của tuổi tác. Sau khi đi tiểu, người bệnh có thể quay lại giường và ngủ lại bình thường. Nhưng cũng có nhiều trường hợp tiểu đêm để lại ảnh hưởng xấu như không thể ngủ trở lại được; buồn ngủ, ngủ gà ngủ gật vào ban ngày; ảnh hưởng đến công việc và chất lượng cuộc sống.

NGUYÊN NHÂN GÂY CHỨNG TIỂU ĐÊM

Theo y học cổ truyền, chức năng tiểu tiện trong cơ thể chủ yếu do hai cơ quan là thận và bàng quang đảm nhiệm. Y văn có câu: “Thận chủ thủy quản lý sự đóng mở, bàng quang chủ chứa nước tiểu cho nên ban đêm tiểu tiện nhiều lần nên trách cứ vào thận và bàng quang”. Đối với người trẻ tuổi khỏe mạnh, âm dương cân bằng và đầy đủ thì ban đêm ít tiểu tiện. Khi tuổi cao, ban đêm đi tiểu tiện nhiều, đó là thủy hỏa đều bất túc. Chứng đi tiểu tiện nhiều vào ban đêm ở người cao tuổi phần lớn là do thận dương hư yếu. Vả lại ban ngày là dương, ban đêm là âm, ban đêm âm thịnh dương suy, cho nên ban đêm tiểu tiện nhiều lần thực là do dương khí suy yếu gây nên.

Vì vậy, để chữa chứng tiểu đêm nên chú trọng ôn bổ thận dương. Nếu chứng trạng nhẹ, biểu hiện thận dương hư không rõ lắm, thường gặp ở người trẻ tuổi mắc bệnh thời gian ngắn, nói chung trách cứ vào vai trò khí hóa của bàng quang, điều trị nên chú trọng bổ khí và làm vững bàng quang. Thận muốn khỏe phải bổ thêm tỳ, cho nên phải kiêm bổ cả tỳ thận, cùng một lúc vừa ôn dương vừa cố sáp.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH CHỨNG TIỂU ĐÊM

Cần hạn chế uống nước vào buổi tối, trong đó có cả việc giảm ăn canh vào bữa cơm chiều, nhất là các loại canh nấu bằng những thứ rau có tính chất lợi tiểu như rau cải, mướp, bầu... Chú ý tiểu tiện trước khi đi ngủ, khám và điều trị triệt để các bệnh do nhiễm khuẩn tiết niệu, các bệnh lý mạn tính khác như tiểu đường, u xơ tuyến tiền liệt, sỏi niệu quản..., có thể lựa chọn và sử dụng các món ăn - bài thuốc của y học cổ truyền và các thực phẩm chức năng có công dụng dự phòng và hỗ trợ trị liệu chứng tiểu đêm. Ví như:

Bài 1: phá cố chỉ 12g, ích trí nhân 12g, sà sàng tử 8g, thỏ ty tử 12g, khiếm thực 12g, kim anh tử 12g, tiểu hồi hương 5g, cam thảo 3g, tất cả đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Bài 2: bầu dục lợn hoặc dê 1 đôi làm sạch, thái miếng rồi đem hầm với khiếm thực 50g, chế đủ gia vị, ăn trong ngày, 7 ngày là 1 liệu trình.

Bài 3: bàng quang lợn 1 cái, làm sạch rồi nhét đầy mẫu lệ vào bên trong, buộc kín miệng rồi đem đun trong 15 phút, sau đó bỏ hết mẫu lệ, ăn bàng quang và uống nước dùng, 7 ngày là 1 liệu trình.

Bài 4: xương sống lợn (còn cả tủy) 3 đốt, hạch đào nhân 30g, đỗ trọng 15g, tất cả đem hầm nhừ, ăn nóng.

Bài 5: bạch quả 5 trái, hạt bí đao 30g, hai thứ đem nấu chín ăn, 10 ngày là 1 liệu trình.

3BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ THỦNG DẠ DÀY TRẺ EM.

Ths. Bs Nguyễn Tải – Bs Lê Minh Tuân
Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Quảng Nam

TÓM TẮT:

Mục đích: Báo cáo một trường hợp lâm sàng này nhằm mục đích trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp về một kỹ thuật có thể sử dụng tại tuyến tỉnh để điều trị thủng dạ dày ở trẻ em.
Phương pháp: Báo cáo một trường hợp lâm sàng
Kết quả: Một bệnh nhân nam, 11t, vào viện với đau bụng, tiền sử bệnh không có gì đặc biệt. Chụp Xquang bụng đứng có hình ảnh liềm hơi dưới hoành bên phải. Chỉ định phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng, hậu phẫu ổn định và xuất viện sau 4 ngày..
Bàn luận và kết luận: Bệnh lý thủng dạ dày- tá tràng do loét xảy ra ở trẻ nhỏ là hiếm gặp. Phẫu thuật nội soi là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả đối với bệnh thủng dạ dày trẻ em.

ĐẶT VẤN ĐỀ.

Thủng dạ dày là một cấp cứu thường gặp ở người lớn, nguyên nhân chủ yếu do loét. Viêm loét dạ dày tá tràng ở trẻ em đa số do nhiễm vi trùng H.pylori (HP). Vi trùng này lây qua đường miệng - miệng, nghĩa là gia đình có nguời bị nhiễm HP, học bán trú ăn chung với bạn cùng lớp bị nhiễm HP. Vi trùng theo đuờng miệng - phân do vệ sinh ăn uống kém, ô nhiễm môi trường, nguồn nước nhiễm bẩn. Tuy nhiên, đối với các trường hợp thủng dạ dày, tá tràng, nhiễm HP chỉ là yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh, Nguyên nhân cũng rất quan trọng là yếu tố tâm lý, học tập căng thẳng, xem tivi, chơi game quá nhiều, thức khuya, ăn nhiều thức ăn nhanh không đúng giờ giấc. Tuy nhiên, thủng dạ dày do loét ở trẻ em là hiếm gặp, chúng tôi báo cáo một trường hợp thủng loét hành tá tràng ở bé trai 11 tuổi được diều trị bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Quảng Nam.

BỆNH ÁN.
Phần hành chính:
- Bệnh nhân: Cao Anh V., 11 tuổi, nam.
- Địa chỉ: Thị trấn Nam Phước-Duy xuyên-Quảng Nam.
- Vào viện ngày: lúc 20h00 ngày 02/2/2016.
- Số bệnh án lưu trữ: 11261.
- Chẩn đoán: Thủng dạ dày.
- Ngày phẫu thuật: 21h00 ngày 02/2/2016.
- Phương pháp : Phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng dạ dày.
- Ngày ra viện: 06/2/2016.
Bệnh sử: Cách nhập viện 6 giờ bệnh nhân đau lâm râm vùng thượng vị, sau đó đột ngột đau tăng lên dữ dội. Tiền sử gần đây bệnh nhân hay đau lâm râm vùng thượng vị, ngoài ra không có bệnh gì đặc biệt trước đây. Thăm khám lâm sàng bệnh nhân đau và phản ứng toàn bộ thành bụng, đau nhiều vùng thượng vị, không sốt.
Cận lâm sàng: Bệnh nhân được làm các xét nghiệm về máu, xét nghiệm nước tiểu, siêu âm và chụp Xquang bụng đứng không chuẩn bị.

Hình Xquang bụng đứng: Hình ảnh liềm hơi dưới hoành phải (mũi tên đỏ).

Chẩn đoán: Thủng dạ dày trẻ em.
Phương pháp vô cảm: Gây mê nội khí quản.
Tường trình phẫu thuật:
- Vào Trocar rốn 10mm phương pháp hở Hasson.
- Bơm hơi CO2 tốc độ 1,5l/phút.
- Đặt tiếp 2 trocart 5mm hai bên hạ sườn.

- Quan sát ổ phúc mạc thấy gầm gan và Douglas nhiều dịch đục, vùng hành tá tràng có lỗ thủng đường kính 5*7mm mềm mại (loét non).
-

- Tiến hành khâu lỗ thủng bằng chỉ Vicryl 2.0 mũi chữ X. Không phủ mạc nối.
- Tưới rửa và hút làm sạch ổ phúc mạc.
- Đặt 1 dẫn lưu gầm gan.
- Xả khí, rút Trocarts, đóng các lỗ Trocar.
-

Hậu phẫu: Dùng kháng sinh, giảm đau, kháng tiết dạ dày.

KẾT QUẢ:

- Sau 24 giờ thay băng, vết mổ khô sạch.
- Dịch qua ống dẫn lưu ít, rút dẫn lưu và cho ăn ngày thứ 3.
- Hậu phẫu ngày thứ 4 bệnh ổn định, cho xuất viện.

Hình bệnh nhân tái khám sau 2 tuần

BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN
Đau bụng cấp trẻ em thường gặp là do các bệnh lý thường gặp như: viêm ruột thừa, lồng ruột, thoát vị nghẽn, viêm phúc mạc tiên phát. viêm dạ dày ruột cấp,viêm gan siêu vi, sỏi mật, viêm túi mật, viêm tụy, nhiễm giun đũa, giun móc, viêm loét dạ dày, nhiễm trùng đường tiểu, sỏi tiết niệu…Chính vì vậy bệnh thủng dạ dày trẻ em thường đến viện trễ, công tác khám và chẩn đoán nếu không kịp thời sẽ làm tăng nguy cơ tình trạng nặng nề và biến chứng.
Hua và cộng sự mô tả 52 bệnh nh bị bệnh thủng loét dạ dày. 90% bệnh nhân là thanh thiếu niên, và 80% số bệnh nhân tham gia là nam, nhỏ nhất là bé gái chín tuổi. Một công bố vào năm 1988, trong 36 bệnh nhân bị bệnh loét dạ dày ở độ tuổi từ 6 đến 18, đã lưu ý rằng trẻ em dưới 10 tuổi, tất cả loét dạ dày tá tràng là thứ phát với các nguyên nhân: do điều trị bằng thuốc hoặc bệnh nhi có bệnh lý nội khoa nặng, hoặc tăng áp lực nội sọ…Bệnh nhân hơn 10 tuổi thì có một tỷ lệ tái phát cao (67%) [4].
Một số các báo cáo có ghi nhận tình trạng viêm ruột thừa kèm theo. Có tác giả cho rằng viêm ruột thừa là điều kiện kích hoạt thủng dạ dày, trong khi đó một số tác giả khác ghi nhận ruột thừa viêm chỉ là thứ phát sau thủng dạ dày [4].
Trước đây điều trị thủng dạ dày trẻ em là phẫu thuật mở kinh điển với đường mổ giữa bụng dài. Từ khi phẫu thuật nội soi chính thức ra đời (Phillip Mouret thực hiện đầu tiên năm 1987 ca cắt túi mật nội soi tại Pháp) thì đã có cuộc cách mạng bùng nổ ứng dụng phẫu thuật nội soi trong ứng dụng điều trị các bệnh lý phẫu thuật ổ bụng trong đó có thủng dạ dày trẻ em.
Các tác giả trong và ngoài nước đều chứng tính hiệu quả và an toàn của phẫu thuật nội soi điều trị thủng dạ dày trẻ em với ưu điểm ít đau, thẩm mỹ, thời gian nằm viện ngắn, nhanh hồi phục…
Trong báo cáo của Wong và cộng sự, 17 bệnh nhi bị loét dạ dày tá tràng thủng có hai bệnh nhân xuất hiện chảy máu tiêu hóa sau mổ và được điều trị bảo tồn không cần phẫu thuật [1].
Vai trò của kháng tiết ở trẻ em chưa được nghiên cứu rộng rãi. Edwards và cộng sự báo cáo 29 bệnh nhi mắc bệnh loét dạ dày phức tạp, 5 đã được điều trị kháng acid ở thời gian đầu sau mổ. Tuy nhiên hầu hết các tác giả đều sử dụng kháng tiết trong bệnh thủng dạ dày trẻ em [2].
Sự phổ biến của nhiễm H. pylori đã giảm tại Hoa Kỳ và châu Âu. Mặc dù vậy, tỷ lệ vẫn còn cao ở châu Á và các nước đang phát triển. Truyền bệnh được cho là xảy ra thường xuyên nhất từ người sang người, và trẻ em thì phổ biến nhất để có được lây nhiễm từ mẹ sang con [3]. H. pylori có thể được chẩn đoán thông qua phương tiện xâm lấn và không xâm lấn, trong đó bao gồm nội soi sinh thiết, hoặc một thử nghiệm urease hơi thở, phát hiện các kháng thể trong huyết thanh, nước tiểu, hoặc nước bọt, hay kháng nguyên trong phân. Tỷ lệ thủng loét dạ dày tá tràng ở trẻ em đã giảm ở các nước công nghiệp phát triển. Bệnh loét dạ dày có nhiễm H. pylori có tỷ lệ tái phát cao [1].
Thủng dạ dày trẻ em là bệnh hiếm gặp. Số liệu báo cáo cho thấy xu hướng gia tăng bệnh này ở Việt Nam. Phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng dạ dày là phương pháp an toàn, hiệu quả ngay cả trong trường hợp lỗ thủng lớn, phức tạp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Azarow, K., Kim, P., Shandling, B., and Ein, S.A. 45-year experience with surgical treatment of peptic ulcer disease in children. J Pediatr Surg. 1996; 31: 750–753
    2. Goldman, N., Punguyire, D., Osei-Kwakye, K., and Baiden, F. Duodenal perforation in a 12-month old child with severe malaria. Pan Afr Med J. 2012; 12: 1.
    3. Yadav, R.P., Agrawal, C.S., Gupta, R.K., Rajbansi, S., Bajracharya, A., and Adhikary, S. Perforated duodenal ulcer in a young child: an uncommon condition. JNMA J Nepal Med Assoc. 2009; 48: 165–167
    4. Sanabria, A.E., Morales, C.H., and Villegas, M.I. Laparoscopic repair for perforated peptic ulcer disease. Cochrane Database Syst Rev. 2005;
    5. Sara Morrison, Peter Ngo, Bill Chiu. Perforated peptic ulcer in the pediatric population: A case report and literature review. Journal of Pediatric Surgery. 2013 Volume 1, Issue 12, Pages 416–419

Mùa đông lạnh, nhiệt độ môi trường và độ ẩm không khí thấp là điều kiện thuận lợi giúp cho virus cúm phát triển và gây bệnh “cúm mùa” cho con người. Trẻ em là đối tượng dễ bị nhiễm cúm do sức đề kháng còn non yếu trẻ...
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 1/3 số trẻ em trên toàn thế giới bị nhiễm cúm và đặc biệt trẻ em cũng được xếp vào nhóm có tỉ lệ tử vong cao do bệnh cúm
Yếu tố “thiên thời địa lợi” làm lan truyền lây nhiễm virút cúm
Thời tiết khí hậu: ở môi trường có độ ẩm thấp và nhiệt độ không cao (khí hậu lạnh, ẩm) dễ làm phát tán bệnh cúm.
Môi trường sống: không thông thoáng, mật độ dân cư đông đúc, môi trường ô nhiễm hoặc ẩm thấp dễ làm lây truyền virút cúm.
Phương tiện di chuyển công cộng đông đúc: nhất là khoảng cách giữa người bệnh và người lành không còn an toàn (<1m) làm người dễ hít các giọt tiết bắn ra từ người bệnh, nhất là trẻ em.
Bệnh cúm dễ nhầm lẫn với bệnh cảm lạnh thông thường
Cảm lạnh và cúm là 2 bệnh lý hoàn toàn khác nhau, mặc dù 2 bệnh có những triệu chứng tương tự nhau. Sự khác biệt thể hiện qua 3 đặc điểm sau đây:
Khác nhau về tác nhân gây bệnh:bệnh cảm lạnh thường do một số siêu vi thông thường đường hô hấp như Adenovirus, Rhinovirus, Coronavirus…. gây ra, còn bệnh cúm thì do virút cúm có tên khoa học là Influenzae.
Khác nhau về bệnh cảnh và triệu chứng lâm sàng: bệnh cảm lạnh thường gây những triệu chứng ở đường hô hấp ở mức độ nhẹ hoặc trung bình như hắt hơi, sổ mũi, hoặc nghẹt mũi, một số bệnh nhân có thể bị ho khan hoặc cơ thể mệt mỏi thoáng qua. Ngược lại, khi bị nhiễm cúm triệu chứng bệnh thường rầm rộ biểu hiện qua 3 hội chứng sau:
Hội chứng nhiễm trùng: trẻ thường bị sốt cao liên tục 39 - 400C khi nhiễm cúm, mặt đỏ bừng, mạch nhanh, biếng ăn, tiểu ít, nước tiểu vàng sậm. Trẻ thường bị mệt lả, đuối sức vì sốt.
Hội chứng đau nhức: nhức đầu dữ dội và liên tục gia tăng khi sốt cao hoặc khi ho gắng sức, thường đau nhiều ở vùng trán và vùng trên nhãn cầu. Bệnh nhân còn đau các bắp cơ thân mình. Bệnh nhân có cảm giác nóng, đau vùng trên xương ức.
Hội chứng viêm long đường hô hấp: xuất hiện ngay các ngày đầu với mức độ nặng nhẹ khác nhau như hắt hơi, nghẹt mũi, sổ mũi, mắt đỏ, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, cảm giác khô và đau rát họng. Trẻ em thường kèm theo dấu hiệu buồn nôn, nôn ói hoặc đau bụng.
Khác nhau về mức độ nguy hiểm và biến chứng: bệnh cảm lạnh thường tự khỏi và không gây bất kỳ biến chứng nguy hiểm nào cho con người, ngược lại bệnh cúm nếu không theo dõi và chăm sóc người bệnh đúng cách có thể gây những biến chứng nghiêm trọng cho con người.
Chăm sóc đúng cách trẻ mắc cúm tại nhà
Việc chăm sóc nên chú ý những nguyên tắc sau đây:
- Hạ sốt cho trẻ khi thân nhiệt đo được từ 380C bằng paracetamol đơn chất với liều 10mg - 15mg/kg cân nặng cơ thể mỗi 4 - 6 giờ kết hợp với lau mát bằng nước ấm khi cần thiết. Tuyệt đối không được sử dụng aspirin để hạ sốt cho trẻ.
Cho trẻ uống thêm nhiều nước, đặc biệt là những loại nước giàu vitamin C như nước cam tươi, nước chanh, nước táo… giúp trẻ tăng cường sức đề kháng để mau khỏi bệnh. Cho trẻ ăn những thức ăn lỏng, ấm, dễ tiêu hóa và giàu dinh dưỡng như cháo, xúp dinh dưỡng, sữa nóng…
Cho trẻ đến ngay bệnh viện nếu thấy bệnh trầm trọng hơn, trẻ bỏ ăn bỏ uống, quấy khóc nhiều, đặc biệt là sốt cao liên tục không hạ sau khi đã uống thuốc hạ sốt và lau mát tích cực.
Chủ động phòng bệnh
- Nhắc nhở trẻ thường xuyên rửa sạch tay bằng xà bông và nước sạch.
- Tránh tiếp xúc với người nghi ngờ nhiễm khuẩn hô hấp cấp, giữ khoảng cách an toàn (>1m).
- Mang khẩu trang y tế khi đến chỗ đông người: bệnh viện, siêu thị, công viên, rạp chiếu phim…
- Nhắc nhở trẻ thói quen che miệng khi ho.
- Giữ vệ sinh thân thể và môi trường sống thật tốt.
- Phòng ngừa chủ động tốt nhất và hiệu quả nhất là đưa trẻ đi tiêm ngừa vắc-xin phòng bệnh cúm.